SÁNG KIẾN CẤP TỈNH "MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA MAI TP LÀO CAI NĂM HỌC 2016-2017"

                                                                        CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
                                                                                  Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÁO CÁO TÓM TẮT HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
         
Tên sáng kiên: "Biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển tại trường mầm non Hoa Mai - Thành phố Lào Cai ”
.
            Mã số: …………….
          1. Tình trạng giải pháp đã biết
1.1.Mô tả ngắn gọn giải pháp đã biết
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BGDĐT năm 2015 về Điều lệ trường mầm non, trong đó Chương III (Chương trình và các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ) đã đưa ra một số quy định như: Xây dựng kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ căn cứ vào chương trình hướng dẫn nhiệm vụ năm học phù hợp với điều kiện của địa phương, phù hợp với khả năng của từng cá nhân trẻ; đầu tư trang thiết bị, đồ dùng tài liệu; Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tiến hành thông qua các hoạt động hàng ngày, theo chương trình giáo dục mầm non, đảm bảo an toàn về tính mạng và tinh thần cho trẻ; Thông qua các ngày hội, ngày lễ, hoạt động truyền thông, phổ biến kiến thức khoa học về nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho cha mẹ trẻ và cộng đồng.
Sở Giáo dục và Đào tạo Lào Cai đã ban hành các văn bản chỉ đạo, tổ chức tập huấn về việc thực hiện chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, trong đó quan tâm chỉ đạo việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, lấy trẻ làm trung tâm.
Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Lào Cai đã tích cực tổ chức thực hiện các hội thảo, chuyên đề để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ; đã quan tâm bàn các biện pháp để bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kĩ năng cho giáo viên trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ theo từng đối tượng, từng độ tuổi, theo vùng miền.
1.2. Ưu khuyết điểm của giải pháp đã, đang được áp dụng tại đơn vị
 * Ưu điểm:
   - Sở Giáo dục, phòng Giáo dục thành phố Lào Cai luôn quan tâm chỉ đạo đạo các nhà trường có những biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ phát triển toàn diện.
   - Cơ sở vật chất được đầu tư, có nhiều góc học tập, hoạt động ngoài thiên nhiên phong phú tạo điều kiện thuận lợi để trẻ tiếp xúc với môi trường xung quanh.
          - Đa số giáo viên có trình độ chuyên môn đạt trên chuẩn, tâm huyết, nhiệt tình, hăng say tận tụy với công việc; có ý thức học hỏi, phấn đấu, hoàn thành tốt công việc được giao.
        -  Nhiều gia đình có điều kiện nên rất quan tâm đến trẻ.
         *Tồn tại
  - Giáo viên chưa được bồi dưỡng về công tác chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển; Một số giáo viên còn quy chụp cho trẻ chậm phát triển là trẻ khuyết tật.
  - Số lượng học sinh trên lớp đông vì vậy giáo viên chưa dành được nhiều thời gian quan tâm, giúp đỡ trẻ chậm phát triển có cơ hội được cải thiện, khắc phục những hạn chế của mình.
   - Một số cha mẹ trẻ chưa quan tâm đến việc nuôi dạy con theo khoa học, còn chiều theo ý thích của trẻ, thường xuyên cho trẻ xem ti vi, điện thoại..., không thường xuyên giao tiếp và cùng chơi với trẻ. Một số gia đình có điều kiện quan tâm quá mức đối với trẻ: ít cho trẻ vận động, sợ trẻ tiếp xúc với nhiều người xung quanh.
2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
          2.1. Mục đích của giải pháp
          Nâng cao nhận thức, bồi dưỡng cho cán bộ, giáo viên kiến thức, phương pháp chăm sóc và giáo dục trẻ chậm phát triển;
          Làm thay đổi nhận thức của một bộ phận cha mẹ trẻ khi chưa nuôi dạy trẻ theo khoa học, chưa có kiến thức, phương pháp nuôi dạy trẻ: Lạm dụng, cho trẻ xem quá nhiều máy tính, điện thoại, ti vi ...hoặc làm giúp con quá nhiều, không dạy cho con tập làm những việc đơn giản nhất phục vụ cho bản thân, không tạo điều kiện cho con được rèn luyện... nên ảnh hưởng đến sức khỏe, nhận thức, ngôn ngữ của trẻ, dẫn đến trẻ chậm phát triển, trẻ tự kỉ...
          Giúp giáo viên và cha mẹ trẻ hiểu rõ nếu khắc phục và cải thiện sớm những hạn chế, khiếm khuyết; khơi gọi, kích thích được những tiềm năng của trẻ sẽ giúp trẻ có cơ hội phát triển về phẩm chất và năng lực phù hợp với lứa tuổi tốt hơn.
          Giúp trẻ chậm phát triển được chăm sóc, giáo dục trong điều kiện tốt nhất; được can thiệp, khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết của mình sớm nhất.
         2.2. Mô tả chi tiết nội dung của giải pháp
            2.2.1. Bồi dưỡng cho đội ngũ về kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển
   2.2.1.1. Cử cán bộ quản lý và giáo viên tham gia lớp tập về giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
Năm học 2015- 2016 nhà trường cử 1 cán bộ quản lý và 2 giáo viên tham gia lớp tập huấn giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại trường đại học sư phạm Hà Nội. Trên cơ sở những biện pháp được tập huấn về chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật, yêu cầu CBQL và giáo viên sau khi đi tập huấn có trách nhiệm nghiên cứu  thống nhất bàn biện pháp để vận dụng linh hoạt trong chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển để bồi dưỡng lại cho các giáo viên khác trong nhà trường. Nội dung bồi dưỡng là:
 - Những biểu hiện của trẻ chậm phát triển.
- Những biện pháp thực hiện để can thiệp, tác động, kích thích trẻ chậm phát triển.
Hoạt động này đã có tác dụng tích cực trong việc trang bị cho đội ngũ về kiến thức, kĩ năng, biện pháp chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật và trẻ chậm phát triển.
  2.2.1.2. Tổ chức hội thảo và các chuyên đề bàn biện pháp, thống nhất cách thức, phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ chậm phát triển
 Đầu năm học, nhà trường đã tổ chức hội thảo về chăm sóc giáo dục trẻ chậm phát triển. Yêu cầu giáo viên trong toàn trường ngoài việc chuẩn bị các nội dung cho hội thảo như nêu những thuận lợi, khó khăn và các giải pháp đã thực hiện trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển, thì cùng nghiên cứu tiết dạy cụ thể và cử 01 giáo viên đã tham gia tập huấn dạy thực hành. Trình tự buổi hội thảo thực hiện như sau:
- Dự một tiết dạy của giáo viên ở lớp có trẻ chậm phát triển.
- Giáo viên báo cáo về thực trạng của trẻ chậm phát triển và các giải pháp để chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển.
- Thảo luận, trao đổi về các nội dung sau:
+ Những thuận lợi, khó khăn trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển (đặc biệt là việc tổ chức các hoạt động giáo dục).
+ Trao đổi thống nhất hướng giải quyết khắc phục khó khăn trong tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển .
Trong buổi hội thảo, lãnh đạo nhà trường đã định hướng cho GV về cách phối hợp để khảo sát, theo dõi đánh giá trẻ, cách tổ chức tiết học chung cho các đối tượng trẻ, tiết học dành riêng cho trẻ chậm phát triển... Đặc biệt giúp GV thấy được công việc cần làm cũng như những yêu cầu khi thiết kế phương án để tổ chức một hoạt động học cho để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh như:
       + Lựa chọn các nội dung phù hợp với hình thức tổ chức hoạt động.
       + Bám sát mục tiêu từng hoạt động phù hợp đối tượng trẻ.
       + Dự kiến hình thức để kiểm soát, đánh giá trẻ; Dự kiến cụ thể những trẻ cần hỗ trợ, giúp đỡ.
Thành phần tham gia Hội thảo là toàn thể CBQL, GV trong nhà trường.        Chỉ đạo các tổ chuyên môn chủ động xây dựng chương trình bồi dưỡng cho giáo viên trong tổ, trên cơ sở lựa chọn hạt nhân là giáo viên có kiến thức và kỹ năng về chăm sóc, giáo dục cho trẻ chậm phát triển sẽ là người chịu trách nhiệm hướng dẫn giáo viên khác. Tổ chức dự giờ chuyên đề về chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển để chia sẻ, rút kinh nghiệm từ đó tư vấn hỗ trợ GV có thể điều chỉnh, can thiệp, hướng dẫn trẻ chậm phát triển của lớp mình đạt hiệu quả cao hơn.
  Tổ chức các buổi sinh hoạt theo chuyên đề và lồng ghép trong sinh hoạt chuyên môn về chăm sóc, giáo dục cho trẻ chậm phát triển.
  CBQL thường xuyên chủ động trao đổi với giáo viên về công tác chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển. Ngược lại giáo viên cũng thường xuyên báo cáo, trao đổi với lãnh đạo nhà trường cũng như tổ trưởng chuyên môn và các giáo viên trong tổ để có tư vấn, hỗ trợ kịp thời. Khi giáo viên gặp khó khăn trong chăm sóc và giáo dục trẻ chậm phát triển, CBQL luôn động viên, chia sẻ, cùng giáo viên và phối hợp với gia đình để tháo gỡ, thống nhất biện pháp chăm sóc, giáo dục tốt nhất.   
  Với các hình thức bồi dưỡng như trên giúp cho 36/36 giáo viên trong toàn trường có nhận thức, thái độ đúng đắn đối với trẻ chậm phát triển, không còn quy chụp trẻ chậm phát triển là trẻ khuyết tật; giáo viên đã nhận thức rõ những khó khăn gặp phải trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển, đồng thời cũng hiểu được dù là chậm phát triển ở nội dung nào đó nhưng trong mỗi đứa trẻ vẫn tiềm ẩn những năng lực sẵn có đòi hỏi giáo viên phải biết khơi gợi, kích thích giúp cho trẻ xóa đi mặc cảm về sự hạn chế của bản thân. Giáo viên được bồi dưỡng, bổ sung về kiến thức, phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển; biết phát hiện được những biểu hiện của trẻ chậm phát triển, có kỹ năng hướng dẫn, kích thích để phát huy năng lực sẵn có của trẻ.
  2.2.2. Làm tốt công tác khảo sát, đánh giá chính xác về mức độ chậm phát triển của trẻ để có biện pháp tác động phù hợp
  Nhà trường xây dựng kế hoạch và mời bác sĩ của Trung tâm y tế, Bệnh viện phục hồi chức năng đến khám bệnh sàng lọc. Căn cứ vào các tiêu chí của y tế đối với trẻ theo độ tuổi để phát hiện kịp thời những trẻ bị bệnh lý và những trẻ chậm phát triển, trẻ khuyết tật. Thống nhất với Trung tâm, Bệnh viện để tư vấn, bồi dưỡng cho cán bộ, giáo viên, nhân viên các biện pháp chăm sóc và giáo dục trẻ chậm phát triển, đặc biệt là cách quan sát, ghi chép các biểu hiện bất thường của trẻ trong ngày.
  Xây dựng phiếu khảo sát trẻ gửi tới gia đình. Việc xây dựng phiếu khảo sát được căn cứ vào mức độ cần đạt ở cuối mỗi độ tuổi theo quy định tại Điều lệ trường mầm non và chương trình giáo dục mầm non mới. Yêu cầu gia đình căn cứ vào các biểu hiện của trẻ qua quan sát, nắm bắt được hàng ngày, trả lời câu hỏi bằng cách đánh dấu vào ô trống theo nội dung khảo sát. Giáo viên chủ nhiệm thu phiếu, tổng hợp phân tích kết quả gửi báo cáo tới lãnh đạo nhà trường đồng thời giữ lại tại lớp để theo dõi, thực hiện.
  Chỉ đạo giáo viên thường xuyên quan sát, theo dõi sát sao các biểu hiện của trẻ; thường xuyên đối chiếu kết quả thực tế của trẻ tại lớp với kết quả khám sàng lọc ban đầu của Y tế và phiếu khảo sát ý kiến của cha mẹ trẻ tại gia đình để phân loại, đánh giá trẻ chính xác từ đó có biện pháp chăm sóc, giáo dục trẻ phù hợp.
  Với việc khám sàng lọc kết hợp với phiếu khảo sát ý kiến của cha mẹ trẻ và việc quan sát hằng ngày tại trường, lớp đã giúp cho giáo viên chủ nhiệm và nhà trường nắm được chính xác số lượng học sinh chậm phát triển đồng thời đã phân loại được trẻ chậm phát triển theo từng nội dung để có biện pháp bồi dưỡng chăm sóc, giáo dục kịp thời. Đặc biệt qua phiếu khảo sát, cha mẹ trẻ sẽ thấy được những yêu cầu tối thiểu cần đạt đối với trẻ theo độ tuổi, từ đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh trong cách chăm sóc, nuôi dưỡng con tại nhà.
Bảng kết quả khảo sát trẻ chậm PT đầu năm học 2015-2016
(theo tiêu chí BGD đánh gía sự phát triển trẻ theo độ tuổi của Bộ GD&ĐT)
 
TT Nội dung khảo sát theo tiêu chí Số lượng trẻ chưa đạt
TS Trẻ 3 tuổi Trẻ 4 tuổi Trẻ 5 tuổi
1 Về nhận thức        
  Trẻ chưa nhận biết được mầu sắc 13 5 6 2
  Trẻ chưa biết đếm số lượng trong phạm vi quy định của độ tuổi 15 8 6 1
  Trẻ chưa nhận biết được vị trí của bản thân 18 10 6 2
  Trẻ chưa nhận biết được các hình 15 8 6 1
  Trẻ chưa nhận biết được các vật dụng cá nhân sử dụng hàng ngày 13 8 4 1
  Trẻ chưa biết được tên, tuổi của bản thân; tên bố mẹ, địa chỉ gia đình 16 12 4  
  Trẻ chưa nhận biết được các con vật gần gũi. 16 13 3  
2 Hành vi        
  Trẻ không tự mặc được quần áo, đi dép 21 12 8 1
  Trẻ không tự xúc được cơm 25 17 7 1
  Trẻ không thực hiện được yêu cầu của cô giáo 13 7 4 2
  Trẻ không giao tiếp, không chơi cùng bạn 11 5 4 2
3 Về ngôn ngữ        
  Trẻ chưa nói được 7 5 2  
  Trẻ nói lắp 8 4 3 1
  Trẻ nói ngọng 9 7 2  
  Trẻ không diễn đạt được thành câu 11 6 4 1
4 Phát triển thẩm mỹ        
  Trẻ chưa biết hát 7 7    
  Trẻ chưa biết vận động theo bài hát, theo nhạc 8 5 3  
  Trẻ hát ngọng, chưa đúng giai điệu 9 7 2  
  Trẻ chưa biết cầm bút để vẽ những đường nét cơ bản 22 12 7 3
  Trẻ chưa biết sử dụng các nguyên vật liệu để cắt, xé, dán, nặn.. 22 12 7 3
 
2.2.3. Tạo môi trường và tăng cường cho trẻ chậm phát triển tham gia các hoạt động giáo dục phù hợp trong trường, lớp
          2.2.3.1. Quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho trẻ chậm phát triển trong các hoạt động giáo dục ở trường, lớp
          Môi trường học tập là yếu tố quyết định rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ, vì vậy nhà trường đã chỉ đạo giáo viên quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho trẻ chậm phát triển trong các hoạt động giáo dục ở trường, lớp:
  - Xếp chỗ ngồi hợp lý để tạo cơ hội cho trẻ giao tiếp tốt hơn và các trẻ có thể giúp đỡ nhau, đồng thời thuận lợi cho quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ của giáo viên: trẻ chậm phát triển về ngôn ngữ được ngồi cạnh những trẻ phát âm chuẩn và hay nói; các bạn nhanh nhẹn ngồi cạnh bạn chậm về hành vi…
VD: Trong giờ làm quen với văn học, cô giáo xếp trẻ chậm phát triển về ngôn ngữ được ngồi cạnh những trẻ phát âm chuẩn và hay nói, các bạn nhanh nhẹn sẽ đọc to, rõ ràng để các bạn chậm đọc theo, học theo.
        - Tăng cường cho trẻ tham gia các hoạt động chung ở mọi lúc mọi nơi; cho trẻ được tiếp xúc nhiều đồ dùng trực quan, đặc biệt là đồ vật thật; quan tâm đến trẻ ở mọi thời điểm trong ngày và kiểm tra mức độ tiến bộ của trẻ theo từng ngày, từng tuần. Trong các hoạt động, cô giáo thường xuyên động viên, khuyến khích, gợi mở, kích thích để trẻ tích cực tham gia hoạt động, hoạt động vừa sức không ỷ lại vào người khác.
       VD: Trong giờ khám phá khoa học cho trẻ làm quen với vật nuôi trong gia đình như con cá, con gà, giáo viên cho trẻ ra khu bể cá, khu chăn nuôi gà của nhà trường để trẻ quan sát, trải nghiệm,...Qua trao đổi, đàm thoại và quan sát, trải nghiệm trẻ nhận biết được hình dạng, màu sắc, môi trường sống, thức ăn, tác dụng từng con vật. Trong quá trình quan sát, cô và những trẻ nhanh nhẹn có nhận thức tốt sẽ hướng dẫn chia sẻ với những bạn chậm phát triển. Và giáo viên tạo điều kiện cho trẻ chậm phát triển được hoạt động như cho cá, cho gà ăn để tạo sự hứng thú cho trẻ.
         - Chỉ đạo giáo viên đặc biệt quan tâm dành thời gian và sự hướng dẫn cho trẻ chậm phát triển trong các hoạt động sau:
          + Dạy trẻ thông qua hoạt động âm nhạc: Âm nhạc có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục trẻ cho trẻ chậm phát triển. Trị liệu bằng âm nhạc hướng tới  làm giảm bớt các hành vi bất lợi, tăng cường các tương tác xã hội thông qua âm nhạc. Trong giờ âm nhạc giáo viên quan tâm cho trẻ được tham gia biểu diễn cùng các bạn, khen ngợi kịp thời khi trẻ tham gia biểu diễn để tạo hứng thú cho trẻ.
VD: Năm học vừa qua có bé Phạm Tuấn Phong 4 tuổi, bé bị chậm phát triển về ngôn ngữ và có nhiều biểu hiện tăng động. Thời gian đầu bé luôn có những hành vi khác lạ, nếu không vừa ý là bé có những hành động bất thường vì vậy giáo viên phải luôn gần gũi, động viên khuyến khích, tạo tình cảm gắn bó giữa cô và trò, giữa các bạn với nhau. Trong giờ hoạt động âm nhạc, cô giáo cho cháu học cùng với nhóm các bạn nhanh nhẹn, khi bật nhạc lên là cháu nhún nhảy tỏ vẻ rất thích học, cho cháu lên tham gia biểu diễn cùng với các bạn, những tràng pháo tay khen ngợi, bé cảm thấy hứng thú. Thời gian đầu bé chưa hát được, cô giáo dạy bé làm những động tác nhún nhảy theo nhạc và dạy từng từ đơn rồi đến từ ghép, cô thường xuyên mời bé lên tham gia hát múa cùng cô, cùng các bạn và dành thời gian tập cho cháu nhiếu hơn, dần dần cháu hát được thành câu, cháu có hứng thú học.
       + Dạy trẻ thông qua vận động: Tăng cường cho trẻ vận động giúp cho hệ thần kinh của trẻ phát triển, các nhóm cơ của trẻ được hoạt động giúp cho trẻ nhanh nhẹn và hoạt bát hơn. Trong quá trình tập luyện trẻ biết được nội dung nào trẻ làm được và nội dung nào trẻ chưa làm được. Cô giáo phải là chỗ dựa, tạo niềm tin và sự an toàn cho trẻ.
       VD: Bé Nguyễn Quốc Huy học sinh 4 tuổi vận động rất yếu. Trong các hoạt động vui chơi, các trò chơi vận động giáo viên thường xuyên chú ý, quan tâm đến trẻ, nhắc nhở các bạn trong lớp giúp đỡ bạn khi chơi, khi học. Trong giờ vận động cơ bản đi theo đường dích dắc, cô giáo hướng dẫn cho trẻ đi chậm và đi cùng trẻ để trẻ đỡ sợ, sau đó cho trẻ tập đi. Giáo viên đề nghị các bạn cổ vũ, động viên để tạo hứng thú cho trẻ. Sau khi trẻ hoàn thành, giáo viên trò chuyện với trẻ để trẻ thấy được sự tiến bộ của mình. Cuối buổi học giáo viên thông báo kịp thời với gia đình về sự tiến bộ của trẻ để cha mẹ trẻ phối hợp quan tâm tạo điều kiện cho trẻ vận động.
       Nhà trường tạo được 2 khu phát triển vận động cho trẻ gồm có bể bơi, xà đơn, thang leo, ống chui, bóng rổ, bóng ném,...Việc thường xuyên cho trẻ hoạt động ở khu phát triển vận động giúp trẻ thư giãn và phát triển toàn diện, đặc biệt giúp trẻ làm quen với nước.
        + Dạy trẻ thông qua hoạt động vui chơi: Chơi là một hoạt động góp phần quan trọng giúp trẻ phát triển về thể lực và nhân cách. Nếu trẻ thiếu hoạt động chơi hoặc hoạt động chơi không diễn ra đúng theo quy luật phát triển của trẻ có thể gây ra sự phát triển bất thường trong đời sống tâm lý. Chơi giúp phát triển nhận thức, hoàn thiện các cơ quan cảm giác, hình thành các quan hệ xã hội…Trong hoạt động vui chơi, giáo viên chú ý các trò chơi phù hợp với trẻ chậm phát triển. Tăng cường tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dân gian, các trò chơi phát triển về nhận thức, phát triển về vận động từ đó giúp trẻ phát triển về thể lực và trí lực. Khi tổ chức chơi trong lớp, tăng cường cho trẻ thể hiện vai chơi của mình; khi tổ chức chơi ở ngoài sân thì tăng cường cho trẻ chơi tập thể và theo nhóm.     
       VD: Chơi tập thể với các trò chơi: Mèo đuổi chuột, kéo co...
                Chơi theo nhóm với các trò chơi: Chơi cá ngựa, xúc xắc...
          + Dạy trẻ thông qua hoạt động trải nghiệm: Để tạo điều kiện cho trẻ phát huy tốt khả năng giao tiếp, nhà trường tăng cường cho trẻ đi tham quan và giao lưu, tham gia các hoạt động ở chỗ đông người, động viên trẻ mạnh dạn, tự tin, biết thể hiện bản thân nơi đông người. Qua các cuộc giao lưu, đi tham quan, dã ngoại như Hội chợ, Tìm kiếm tài năng, tham quan Đền Thượng, Bảo tàng Lịch sử tỉnh Lào Cai, tỉnh đội Lào Cai đã giúp các cháu có cơ hội được tăng cường kĩ năng giao tiếp, khả năng nhận biết và phát triển vận động.
- Tổ chức cho trẻ tập trải nghiệm, ví dụ như trồng và chăm sóc cây. Trong việc này, cô giáo hướng dẫn cho các bạn khỏe và nhanh nhẹn sẽ làm những việc khó hơn còn những bạn chậm sẽ làm những việc đơn giản. Bạn nhanh nhẹn thì trồng cây, bạn chậm phát triển thì tưới cây. Trong quá trình làm cô giáo đặt câu hỏi để trẻ trả lời, hướng dẫn trẻ nói đủ câu, diễn đạt được ý nghĩ của trẻ, khơi gợi cho trẻ để trẻ bộc lộ những mong muốn, sở thích của mình.
          Từ việc cho trẻ tích cực tham gia các hoạt động, vui chơi, trải nghiệm, trẻ đã có nhiều chuyển biến, tự tin, mạnh dạn hòa nhập với các bạn, mạnh dạn tham gia cùng các bạn, trẻ đã có kỹ năng giao tiếp ứng xử, không sợ khi tiếp xúc với người lạ hoặc nơi đông người, nhiều trẻ đã khỏe mạnh hơn.
       2.2.3.2. Tổ chức hoạt động nhóm huy động sự tham gia tích cực của trẻ chậm phát triển
Hoạt động nhóm kích thích trẻ tương tác qua lại với các thành viên khác. Thông qua hoạt động nhóm, trẻ hiểu những cách ứng xử và quy định của nhóm.        Tổ chức hoạt động nhóm tạo cho trẻ được cùng nhau trao đổi, thảo luận, giúp đỡ nhau, chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm; đặc biệt đối với các trẻ chỉ thích chơi một mình sẽ có những thay đổi. Khi cho trẻ học tập và chơi theo nhóm có được sự giúp đỡ của cô giáo và các bạn sẽ phát huy tối đa sức mạnh của các thành viên trong nhóm, tăng cường động cơ học tập, làm nảy sinh hứng thú, sáng tạo mới của trẻ, giúp trẻ có kỹ năng xã hội, phát triển mối quan hệ gắn bó thân thiết.
Trong các hoạt động, giáo viên chia nhóm cho trẻ phù hợp. Trong nhóm có trẻ nhanh nhẹn, có trẻ chậm phát triển để các trẻ giúp đỡ nhau, có thể là nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn. Giáo viên nêu rõ nội dung cần thực hiện trong nhóm, yêu cầu nhóm trưởng cho các bạn trao đổi, thảo luận để thống nhất nhiệm vụ. Trong khi tổ chức cho trẻ hoạt động nhóm, giáo viên lưu ý quan sát để hỗ trợ trẻ chậm phát triển một cách kịp thời; đặc biệt quan tâm phát hiện để biểu dương, khen ngợi sự tiến bộ của trẻ dù là rất nhỏ.
          VD 1:  Trong giờ hoạt động góc chơi phân vai gia đình, giáo viên có thể cho trẻ chậm phát triển đóng vai làm con. Trong quá trình chơi cô hướng dẫn cho trẻ cách thể hiện vai chơi, tạo dựng mối quan hệ, cách xưng hô của các thành viên trong gia đình giúp trẻ biết được các mối quan hệ trong gia đình và trong xã hội.
VD 2: Trong giờ âm nhạc, có thể bạn nhanh nhẹn làm cô giáo, các bạn chậm hơn làm học sinh. Sau vài lần có thể cho học sinh đổi vai, bạn chậm phát triển làm cô giáo, bạn nhanh nhẹn làm học sinh.
          Việc tổ chức cho trẻ học nhóm với nhau giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, đoàn kết thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau, các bạn chậm phát triển được cô giáo và các bạn trong nhóm chia sẻ, tạo cơ hội cho trẻ học tập hòa nhập, tham gia vào các hoạt động.
         2.2.3.3. Bố trí các tiết hoạt động riêng cho trẻ chậm phát triển theo độ tuổi
          Để có những hỗ trợ đặc biệt cho trẻ chậm phát triển, giúp các cháu theo kịp các bạn phát triển bình thường, buổi sáng các ngày trong tuần trẻ chậm phát triển được tham gia học, thực hiện các  hoạt động cùng với các bạn phát triển bình thường tại các lớp, buổi chiều nhà trường chia các cháu chậm phát triển thành 3 lớp theo từng độ tuổi và được giáo viên cốt cán của nhà trường và cán bộ phục hồi chức năng hướng dẫn, giảng dạy. Trên cơ sở các hạn chế, khiếm khuyết của trẻ, giáo viên xây dựng nội dung, chương trình phù hợp để củng cố, bổ sung kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hành vi cho trẻ. Cụ thể như:
          - Đối với trẻ phát triển chậm về ngôn ngữ thì hoạt động chủ yếu là chơi và nói chuyện để rèn cho trẻ về phát âm, giúp trẻ phát âm chuẩn, biết hỏi và trả lời được các câu hỏi; biết sử dụng lời nói để giao tiếp và diễn đạt nhu cầu...
          - Đối với trẻ hạn chế về vận động, tăng cường tổ chức các hoạt động phát triển vận động để rèn cho trẻ nhanh nhẹn, khỏe mạnh...
          - Đối với trẻ hạn chế về nhận thức thì tăng cường cho trẻ quan sát các đồ vật thật, quan sát môi trường xung quanh...để trẻ nhận xét, ghi nhớ và diễn đạt hiểu biết của mình.
       Trong các tiết hoạt động này, cô giáo liên tục thay đổi nhiệm vụ để trẻ không cảm thấy quá nhàm chán với một cách làm duy nhất. Đổi mới hình thức tổ chức, thay đổi nhiệm vụ của trẻ, không làm một nhiệm vụ giống nhau liên tục quá nhiều lần. Khi trẻ làm được một cách, giáo viên giới thiệu những cách mới. Khi đặt ra những nhiệm vụ mới, sẽ có những phần quen thuộc mà trẻ thấy dễ dàng làm quen để nhiệm vụ mới không gây trở ngại, khó khăn và làm trẻ bị rối. VD: Hướng dẫn trẻ xâu hột hạt hay xâu hoa, lúc đầu dạy trẻ biết xâu hạt vòng vào dây sau đó buộc lại thành vòng, lần sau hướng dẫn trẻ biết xâu xen kẽ các màu. Cho trẻ được làm lặp lại 2,3 lần để trẻ nhớ. Sau khi trẻ đã có kĩ năng  có thể cho học sinh thi xâu hạt xem ai nhanh hơn và yêu cầu trẻ nói về cảm nghĩ của mình sau khi tham gia trò chơi. Như vậy, với trò chơi này vừa rèn cho trẻ phát triển nhận thức, vừa rèn sự phát triển vận động vừa rèn cho trẻ về sự phát triển về ngôn ngữ.
       Trong 2 năm học qua, đã tổ chức được 160 tiết học dành riêng cho trẻ chậm phát triển, trong đó có 15 tiết có sự hỗ trợ của Trung tâm y tế thành phố và Bệnh viện phục hồi chức năng. Việc tổ chức các tiết hoạt động dành riêng cho trẻ chậm phát triển đã bù đắp cho trẻ những thiếu hụt mà trẻ chưa đạt được so với yêu cầu độ tuổi, giúp cho trẻ mạnh dạn, tự tin, có các kĩ năng trong giao tiếp, phối hợp, chia sẻ...
          2.2.4. Phối kết hợp cộng đồng và cha mẹ trẻ trong việc nâng cao chất lượng giáo dục cho trẻ
          2. 2.4.1. Làm tốt công tác phối hợp với Trung tâm y tế thành phố, Bệnh viện phục hồi chức năng Lào Cai
          Nhà trường đã phối hợp với Trung tâm y tế thành phố, Bệnh viện phục hồi chức năng để làm các công việc sau:
           - Tổ chức tập huấn, hướng dẫn giáo viên và cha mẹ trẻ về cách nhận biết những biểu hiện của trẻ chậm phát triển; các kĩ năng chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển.
          - Khám sàng lọc sức khỏe cho trẻ;
         - Tư vấn cho nhà trường và giáo viên về việc thiết kế, tổ chức các hoạt động  giáo dục cho trẻ chậm phát triển;
- Phối hợp theo dõi, kiểm tra, đánh giá sự phát triển của trẻ;
- Tham gia hỗ trợ giáo viên trong các tiết hoạt động riêng cho trẻ chậm phát triển theo độ tuổi.
       Kết quả: Trong hai năm học 2015-2016, 2016-2017, Trung tâm y tế thành phố và Bệnh viện phục hồi chức năng đã tập huấn cho nhà trường 3 buổi; đã phối kết hợp để khám sức khỏe sàng lọc cho 278 trẻ; hỗ trợ 15 tiết hoạt động riêng cho trẻ chậm phát triển theo độ tuổi.
       Việc phối hợp với Trung tâm y tế thành phố và Bệnh viện phục hồi chức năng Lào Cai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác giáo dục cho trẻ chậm phát triển đã giúp cho nhà trường bổ sung những kiến thức và kĩ năng chăm sóc trẻ chậm phát triển một cách tốt nhất.
          2.2.4.2. Phối hợp với cha mẹ trẻ
          Nhà trường phối hợp với cha mẹ trẻ với các công việc cụ thể như:
          - Giáo viên thông báo cho cha mẹ trẻ biết được những tiêu chí cần đạt được theo độ tuổi của trẻ, từ đó giúp cha mẹ trẻ có biện pháp phối hợp chăm sóc, giáo dục trẻ.
-  Khảo sát, đánh giá trẻ; Theo dõi sự phát triển của trẻ;
- Tư vấn cho cha mẹ trẻ về cách nhận biết những biểu hiện chậm phát triển của trẻ; cách chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển; cách tạo môi trường cho trẻ ở nhà như: cùng chơi với trẻ, tăng cường giao tiếp, trò chuyện với trẻ để kích thích, đánh thức tiềm năng của trẻ một cách kịp thời; tạo điều kiện cho trẻ đến chỗ đông người, tham gia sinh hoạt tập thể, tham gia các hoạt động phát triển vận động để trẻ có cơ hội phát triển ngôn ngữ và thể chất, rèn tính nhanh nhẹn, mạnh dạn, tự tin;
- Phân tích cho cha mẹ trẻ hiểu tác hại của việc lạm dụng cho trẻ xem ti vi, sử dụng điện thoại, máy tính ...Từ đó tư vấn cho cha mẹ trẻ về việc cho trẻ xem ti vi, sử dụng điện thoại, máy tính phải giới hạn thời gian phù hợp để tránh ảnh hưởng đến tinh thần và sức khỏe của trẻ.
-  Luôn giữ mối thông tin 2 chiều giữa cha mẹ trẻ và giáo viên về các biểu hiện và sự tiến bộ của trẻ để có những uốn nắn, bổ sung hoặc khen ngợi kịp thời.
Kết quả: trong 2 năm học vừa qua, nhà trường đã tổ chức được 4 buổi tư vấn cho cha mẹ trẻ về cách nhận biết những biểu hiện chậm phát triển của trẻ, cách chăm sóc, giáo dục trẻ và cách tạo môi trường cho trẻ ở nhà; Đã có 1250  bậc cha mẹ trẻ trả lời vào phiếu khảo sát trẻ của nhà trường, trong đó có hơn 900 bậc cha mẹ trẻ đánh giá con em mình chính xác theo những tiêu chí cần đạt được theo độ tuổi của trẻ. Còn khoảng hơn 300 bậc cha mẹ trẻ đánh giá con em mình chưa chính xác. Với việc trả lời vào phiếu khảo sát đã phần nào giúp cha mẹ trẻ hiểu rõ những nhận biết, kĩ năng tối thiểu cần dạy cho trẻ để có biện pháp can thiệp, kích thích trẻ phát huy tiềm năng một cách sớm nhất.
Chính vì làm tốt công tác phối kết hợp với gia đình trẻ trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ nên cha mẹ trẻ đã hiểu được những yêu cầu cần đạt của trẻ theo độ tuổi, đồng thời hiểu rõ việc can thiệp, tác động, kích thích để khắc phục những hạn chế của trẻ càng sớm càng tốt; cha mẹ trẻ có thêm kiến thức, kĩ năng chăm sóc trẻ; nhà trường đã nhận được nhiều sự chia sẻ của cha mẹ trẻ trong việc hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển.
2.3. Tính mới, tính sáng tạo, điểm khác biệt của sáng kiến
          Sáng kiến đã đưa ra các biện pháp cụ thể, thiết thực. Hiện nay chưa có tài liệu nào đưa ra biện pháp cụ thể để chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển. Trường MN Hoa Mai là đơn vị đầu tiên trong toàn thành phố và tỉnh Lào Cai  thực hiện đề tài này với các biện pháp như:
            Mở 3 lớp cho trẻ chậm phát triển ở các độ tuổi học tại trường, giúp cho gia đình không phải đưa trẻ đi học tại bệnh viện phục hồi chức năng, tiết kiệm được thời gian và kinh phí cho cha mẹ trẻ.
           Xây dựng được bộ phiếu khảo sát, tài liệu cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ chậm phát triển.
           Bồi dưỡng, hướng dẫn cha mẹ học sinh cách chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ chậm phát triển.
           Huy động kinh phí của các tổ chức xã hội ủng hộ cho trẻ chậm phát triển, gia đình trẻ không phải đóng góp.
Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên đi tập huấn tại Hà nội về chương trình dạy trẻ chậm phát triển.
Tạo môi trường và tăng cường cho trẻ chậm phát triển tham gia các hoạt động giáo dục phù hợp trong trường, lớp;
Tổ chức hoạt động nhóm huy động sự tham gia tích cực của trẻ chậm phát triển;
           3. Khả năng áp dụng của giải pháp
          + Áp dụng rộng rãi trong các trường mầm non của tỉnh.
          + Được Phòng GD&DDT, Sở GD&ĐT đánh giá cao
          4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp
4.1. Theo ý kiến của tác giả sáng kiến
          4.1.1 Hiệu quả kinh tế
          Các biện pháp được thực hiện trong sáng kiến hoàn toàn phát huy nội lực của giáo viên và cơ sở vật chất của nhà trường. Việc tham gia của lực lượng Y tế và phục hồi chức năng là do sự phối hợp chia sẻ, cộng đồng trách nhiệm, hoàn toàn mang tính chất tự nguyện. Cha mẹ trẻ không phải đóng thêm kinh phí cho trẻ chậm phát triển tham gia học.
4.1.2.  Hiệu quả xã hội
         Việc can thiệp, kích thích, khắc phục sớm những hạn chế cho trẻ em mầm non sẽ giúp cho trẻ cơ hội phát triển bình thường như trẻ khác, góp phần tích cực để giảm thiểu những gánh nặng cho gia đình và xã hội sau này.
Biện pháp đã góp phần đáp ứng được sự mong đợi của cha mẹ học sinh về sự quan tâm riêng của nhà trường đối với những trẻ còn hạn chế; đảm bảo sự công bằng với tất cả các em học sinh và có sự thống nhất, đồng bộ trong công tác quản lý, chỉ đạo; Tạo tâm thế tốt cho các em học tập ở các bậc học cao hơn; trẻ cởi mở trong giao tiếp, sức khỏe và nhận thức được nâng lên, biết chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau.
 Nhiều cha mẹ trẻ đã thay đổi về nhận thức, quan tâm, gần gũi với trẻ, tạo điều kiện cho trẻ khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết; thường xuyên trao đổi, phối hợp với giáo viên và nhà trường trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ.
Thu hút được các tổ chức xã hội, đoàn thể và nhân dân, cha mẹ học sinh tham gia vào các hoạt động của nhà trường, nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ toàn diện. Ủng hộ kinh phí giúp trẻ chậm phát triển
4.1.3. Hiệu quả trong công tác chuyên môn, công tác quản lý
Sáng kiến đã được Phòng GD&ĐT đã chỉ đạo, tổ chức tập huấn cho 52 cán bộ quản lý và 435 giáo viên trong toàn thành phố.
Sau khi triển khai phòng Giáo dục đã báo cáo Sở Giáo dục và Đạo tạo tỉnh Lào Cai để chỉ đạo các trường trong toàn tỉnh triển khai thực hiện.
Cán bộ quản lý nắm chắc được biện pháp chăm sóc và giáo dục trẻ chậm phát triển; Làm tốt công tác phối kết hợp với các tổ chức xã hội trong việc bồi dưỡng và giúp đỡ trẻ chậm phát triển.
  * Đối với giáo viên
   Được bồi dưỡng, bổ sung về kiến thức, phương pháp chăm sóc và giáo dục trẻ chậm phát triển; biết phát hiện được những biểu hiện của trẻ chậm phát triển; có kỹ năng hướng dẫn, kích thích để phát huy được năng lực sẵn có của trẻ.
   Nhiều giáo viên đã quan tâm đến việc tạo không gian, môi trường nhằm tạo hứng thú cho trẻ tham gia các hoạt động.
  * Đối với trẻ
  Nhiều trẻ tự tin, mạnh dạn giao tiếp, bày tỏ; trẻ đã nói đủ câu, nhận biết tốt về màu sắc, các dấu hiệu, vị trí của bản thân.
 Đa số trẻ tích cực tham gia các hoạt động, không sợ khi tiếp xúc với người lạ hoặc nơi đông người. Đặc biệt, trẻ chậm phát triển đã không bị mặc cảm và tích cực tham gia các hoạt động.
  Trẻ được hoạt động theo nhóm và được trải nghiệm nhiều, nhiều trẻ biết chia sẻ, giúp đỡ bạn; Nhận thức của trẻ nâng lên rõ rệt, số trẻ hạn chế về nhận thức giảm;
  Nhiều trẻ đã có tiến bộ rõ rệt trong lao động tự phục vụ: trẻ tự mặc quần áo, xúc cơm và vệ sinh cá nhân.
Sau khi áp dụng giải pháp tỷ lệ trẻ chưa đạt yêu cầu giảm mạnh theo các tiêu chí giảm từ 63 % đến 100%
 * Kết quả cụ thể:
Đánh giá kết quả rèn kỹ năng, nhận thức của học sinh chậm phát triển sau 2 năm thực hiện.
 
 
TT
 
 
Nội dung
 
 
Năm học 2015 -2016
 
 
Năm học 2016 -2017
 Tỷ lệ trẻ chậm phát triển giảm sau 2 năm
TS Đạt % Chưa Đạt % TS Đạt % Chưa Đạt % TS %
1 Về nhận thức                        
  Trẻ chưa nhận biết được mầu sắc 13 2 15,4 11 84,6 13 11 84,6 2 15,4 11 84,6
  Trẻ chưa biết đếm số lượng trong phạm vi quy định 15 5 33,3 10 66,7 15 14 93,3 1 6,7 14 93,3
  Trẻ chưa nhận biết được vị trí của bản thân 18 4 22,3 14 77,7 18 15 83,3 3 16,7 15 83,3
  Trẻ chưa nhận biết được các hình 15 5 33,3 10 66,7 15 14 93,3 1 6,7 14 93,3
  Trẻ chưa nhận biết được các vật dụng cá nhân sử dụng hàng ngày 13 6 46,2 7 53,8 13 12 92,3 1 7,7 12 92,3
  Trẻ chưa biết được tên, tuổi của bản thân; tên bố mẹ, địa chỉ gia đình 16 5 31,3 11 68,7 16 13 81,3 3 18,7 13 81,3
  Trẻ chưa nhận biết được các con vật gần gũi. 16 6 37,5 10 62,5 16 16 100     16 100
2 Hành vi                        
  Trẻ không tự mặc được quần áo, đi dép 21 3 14,3 18 85,7 21 19 90,4 2 9,6 19 90,4
  Trẻ không tự xúc được cơm 25 7 28 18 72 25 23 92 2 8 23 92
  Trẻ không thực hiện được yêu cầu của cô giáo 13 3 23 10 77 13 11 84,6 2 15,4 11 84,6
  Trẻ không giao tiếp, không chơi cùng bạn 11 3 27,3 8 72,7 11 11 100     11 100
3 Về ngôn ngữ                        
  Trẻ chưa nói được 7     7 100 7 6 85,7 1 14,3 6 85,7
  Trẻ nói lắp 8     8 100 8 5 62,5 3 37,5 5 62,5
  Nói ngọng 9     9 100 9 6 66,6 3 33,4 6 66,6
  Trẻ không diễn đạt chưa được thành câu 11 3 27,3 8 72,7 11 8 72,7 3 27.3 8 72,7
4 Phát triển thẩm mỹ                        
  Trẻ chưa biết hát 7 2 28,5 5 71,5 7 7 100     7 100
  Trẻ chưa biết vận động theo bài hát, theo nhạc 8 2 25 6 75 8 7 87,5 1 25 7 87,5
  Trẻ hát ngọng, chưa đúng giai điệu 9     9 100 9 6 66,6 3 27,3 6 66,6
  Trẻ chưa biết cầm bút để vẽ những đường nét cơ bản 22 7 31,8 15 68,2 22 18 81,8 4 18,2 18 81,8
  Trẻ chưa biết sử dụng các nguyên vật liệu để cắt, xé, dán, nặn.. 22 8 36,4 14 63,6 22 19 86,4 3 13,6 19 86,4
 
Qua bảng kết quả trên cho thấy, mặc dù số trẻ chậm phát triển vẫn còn nhưng đã giảm rất nhiều, từ 63% trở lên.
          4.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu
Được Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai, Phòng Giáo dục, các trường mầm non đánh giá cao. Sáng kiến được nhân rộng cho các trường mầm non trong toàn tỉnh thực hiện.
Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ, giáo viên ở các trường trong thời gian hè.
Cán bộ quản lý nắm chắc được các biện pháp chăm sóc và giáo dục trẻ chậm phát triển; Làm tốt công tác phối kết hợp với các cơ quan, tổ chức xã hội trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ.
  Phát huy được tính tích cực, sự sáng tạo của đội ngũ, tiết kiệm được kinh phí, ngân sách của nhà nước, chi phí thấp nhưng hiệu quả cao.
  Giáo viên đã thay đổi về nhận thức, không còn quy chụp cho trẻ chậm phát triển là trẻ khuyết tật; được bồi dưỡng, nâng cao về kiến thức, kĩ năng, biện pháp chăm sóc và giáo dục trẻ; biết phát hiện được những biểu hiện của trẻ chậm phát triển đồng thời có biện pháp để tác động, kích thích nhằm khắc phục những khiếm khuyết và phát huy những tiềm năng sẵn có của trẻ.
Cha mẹ trẻ đã có nhiều thay đổi trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con ở nhà.
  Trẻ tích cực tham gia các hoạt động, đa số không sợ khi tiếp xúc với người lạ hoặc nơi đông người. Đặc biệt trẻ chậm phát triển đã không còn bị mặc cảm mà đã tích cực tham gia các hoạt động; Nhiều trẻ tự tin, mạnh dạn giao tiếp, bày tỏ; Nhận thức của trẻ nâng lên rõ rệt; Nhiều trẻ đã có tiến bộ rõ rệt trong lao động tự phục vụ...
          5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu:
TT Họ và tên Năm sinh Chức vụ Đơn vị công tác Trình độ chuyên môn
1 Trần Thị Như Hoa 1977 Tổ trưởng CM khối MG lớn MN Hoa Mai  Đại học
2 Đinh Thị Thu 1974 Giáo viên MN Hoa Mai   Đại học
3 Trịnh Thu Huyền 1980 Giáo viên MN Hoa Mai   Trung cấp
4 Phạm Thu Hằng 1976 Giáo viên lớp MG lớn A4 MN Hoa Mai   Đại học
5 Nguyễn Thị Hồng Vân 1980 Giáo viên lớp MG lớn A6 MN Hoa Mai   Cao đẳng
6 Vũ Thị Thơm 1989 Giáo viên  Lớp MG bé C4 MN Hoa Mai   Cao đẳng
7 Vũ Thị Trà Giang 1977 Tổ trưởng CM khối MG nhỡ MN Hoa Mai   Đại học
8 Lê Thị Lượng 1962 Giáo viên  MN Hoa Mai   Trung cấp
9 Đỗ Thị Lụa 1989 Giáo viên lớp MG nhỡ B1 MN Hoa Mai   Đại học
10 Nguyễn Ngọc Hà 1985 Giáo viên lớp MG nhỡ B1 MN Hoa Mai   Trung cấp
11 Phạm Thị Liên 1985 Giáo viên MN Hoa Mai   Đại học
12 Hoàng Thị Minh Hạnh 1984 Giáo viên lớp MG nhỡ B6 MN Hoa Mai   Đại học
13  Hoàng Ngọc Hà 1983 Giáo viên lớp MG nhỡ B4 MN Hoa Mai   Cao đẳng
14 Lê Thị Thanh 1963 Giáo viên lớp MG nhỡ B4 MN Hoa Mai Trung cấp
15 Phạm Thu Hiền 1984 Giáo viên lớp MG Bé C1 MN Hoa Mai Cao đẳng
16 Cao Thị Lan 1981 Giáo viên lớp MG Bé C1 MN Hoa Mai Trung cấp
17 Đoàn Thị Thúy 1976 Giáo viên lớp MG bé C2 MN Hoa Mai Trung cấp
18 Trần Thanh Vân 1985 Giáo viên lớp MG bé C2 MN Hoa Mai Trung cấp
6. Tài liệu kèm theo:
  Phiếu điều tra (5 bản)                                                                                            TP. Lào Cai, ngày 16 tháng 5 năm 2017
  Bài tập huấn cho cha mẹ trẻ                                                                                                       Người báo cáo                                                             
 
                                                         
                                                                                                                                                              Lê Thị Liên Hoa     
                                                                                XÁC NHẬN CẤP CÓ THẨM QUYỀN

Tác giả bài viết: Lê Thị Liên Hoa - Hiệu Trưởng Trường MN Hoa Mai